Thứ Ba, ngày 28 tháng 6 năm 2011

Doanh nghiệp mong gì từ hỗ trợ pháp lý?

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là một "món quà" của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp trên cơ sở những ý tưởng pháp lý tốt đẹp và sự đòi hỏi thực tế. Tuy nhiên, dù đã hơn hai năm trôi qua, dường như bên hỗ trợ vẫn chưa sẵn sàng "trao quà" và bên tiếp nhận thì vẫn còn đang mong chờ "tặng phẩm".

Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là nhằm định hướng, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, giúp doanh nghiệp hoạt động và phát triển dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định, chắc chắn, bền vững, lâu dài. Về lý thuyết, các doanh nghiệp được hỗ trợ một cách hoàn toàn công bằng, không phân biệt đối xử. Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28-05-2008 của Chính phủ về Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã đưa ra nguyên tắc đối với hoạt động hỗ trợ pháp lý là được thực hiện bằng các hình thức phù hợp và các chương trình theo nhu cầu của từng đối tượng được hỗ trợ.

Bên hỗ trợ là các cơ quan Nhà nước, đóng vai của người cho; còn bên nhận sự hỗ trợ là các doanh nghiệp, giữ vai của kẻ nhận. Tuy nhiên, hỗ trợ pháp lý, giống như cho - nhận cái "cần câu", chứ không phải là cho - nhận "con cá" như hỗ trợ lãi suất, miễn giảm tiền thuế hay ưu đãi về tiền thuê nhà đất.

"Theo quy định, thì doanh nghiệp nhận được rất nhiều sự hỗ trợ pháp lý, có rất nhiều quyền, được hưởng rất nhiều lợi ích. Tuy nhiên, trên thực tế, dường như không có sự thay đổi đáng kể nào giữa trước và sau 2 năm thực hiện Nghị định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp".

Các nội dung được hỗ trợ của doanh nghiệp gồm: Được khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật; được giới thiệu, cung cấp, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật; được bồi dưỡng kiến thức pháp luật; được giải đáp pháp luật. Trong đó, riêng việc giải đáp pháp luật cũng đã được thực hiện thông qua nhiều hình thức: Giải đáp bằng văn bản; giải đáp thông qua mạng điện tử; giải đáp trực tiếp hoặc thông qua điện thoại và giải đáp thông qua các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, số lượng vấn đề giải đáp mấy năm qua cũng vẫn gần như dậm chân tại chỗ. Bộ nào đã giải đáp nhiều thì vẫn tiếp tục trả lời nhiều, bộ nào vốn ít giải đáp thì doanh nghiệp vẫn mỏi cổ trông chờ. Ví dụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có vài trăm công văn mỗi năm, còn Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì chỉ có trên dưới chục công văn mỗi năm.

Các Bộ có trách nhiệm "tổ chức xây dựng, duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để đăng tải trên trang thông tin điện tử chính thức của Bộ" . Việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật là trách nhiệm chung của các cơ quan quản lý Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý, chứ không phải phục vụ riêng gì doanh nghiệp. Có hay không có quy định này, trước đòi hỏi của việc xây dựng Chính phủ điện tử, thì các cơ quan Nhà nước cũng vẫn phải có hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật của cơ quan mình. Tuy nhiên, sau 2 năm rồi, trang web của các bộ nhìn chung vẫn còn thiếu nhiều văn bản và những văn bản đã có thì cũng khó tra cứu. Đặc biệt vô lý khi mà các trang web của bộ thì thiếu rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản giải đáp của chính bộ mình, trong khi một số trang web kinh doanh thì lại có khá đầy đủ văn bản giải đáp của các bộ. Thông qua việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước cũng được lợi, chứ không chỉ có doanh nghiệp. Các bộ sẽ có thêm điều kiện để hoàn thành vai trò quản lý nhà nước của mình, đó đưa được pháp luật vào cuộc sống khi triển khai thực hiện, đồng thời cũng đưa được thực tế cuộc sống vào pháp luật trong quá trình xây dựng. Như vậy các cơ quan nhà nước cũng cần đến doanh nghiệp và mới gọi là hỗ trợ pháp lý, chứ nếu không thì chỉ còn là trợ giúp pháp lý.

Người cho cũng vướng

Trong những quyền lợi nói trên của doanh nghiệp, có lẽ cần thiết nhất là "Doanh nghiệp có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải đáp pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực do mình quản lý có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp". Mà trong việc giải đáp pháp luật, thì việc giải đáp thắc mắc về các vụ việc cụ thể mới là điều các doanh nghiệp cần và mới thực sự có ý nghĩa, tác dụng. Thậm chí nhiều trường hợp, thông tư hướng dẫn cũng phải kèm theo các ví dụ cụ thể thì mới bảo đảm hiểu chính xác quy định. Tuy nhiên, những trường hợp này lại thuộc diện được loại trừ trách nhiệm giải đáp theo quy định: "Việc giải đáp pháp luật quy định tại Điều này không áp dụng đối với các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp về những trường hợp cụ thể liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp."

Trên thực tế, đa số các văn bản giải đáp của các bộ, trong đó có một số bộ giải đáp nhiều nhất (đưa thông tin lên mạng) như Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, thì lại là giải đáp về những tình huống cụ thể của doanh nghiệp. Như vậy, nếu cứ bám sát câu chữ, thì việc các Bộ đã và đang tích cực giải đáp pháp luật là đã làm quá yêu cầu của quy định hiện hành. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở sự giải đáp chung chung mà không giải quyết các tình huống cụ thể, thì mục tiêu nhằm hỗ trợ tốt hơn thành ra lại hạn chế hơn thực tế đang diễn ra. Chưa nói cùng một vấn đề, thường ý kiến tư vấn pháp luật của luật sư rất khó được các cơ quan thừa hành công nhận, trong khi giải đáp của cơ quan nhà nước thì lại được mặc nhiên coi trọng như văn bản pháp quy.

Có một thực tế là, ngay nhiều công việc rõ ràng là thuộc trách nhiệm giải quyết của bộ, đã có những quy định cụ thể về thủ tục và thời hạn, mà còn thường xuyên bị treo trễ, gây khó dễ, thì việc hỗ trợ cho doanh nghiệp lại càng khó được bảo đảm. Thử "thị trường hoá" mối quan hệ quản lý nền kinh tế, thì bên cơ quan quản lý là người bán hàng và doanh nghiệp là người mua hàng. Còn hỗ trợ pháp lý thì cũng như là việc khuyến mại cho khách hàng, chỉ là trách nhiệm phụ. Thậm chí, nếu bán hàng theo cách phân phối, ban phát, thì chẳng cần quan tâm đến khuyến mại. Do vậy, nếu các cơ quan Nhà nước không làm tròn bổn phận hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thì cũng "vô can".

In ấn tài liệu nói chung, tuyên truyền tập huấn, đào tạo nói chung, thì là cả một quá trình lâu dài, và là công việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung, phải làm mọi lúc, mọi nơi, bền bỉ, lâu dài, cho mọi đối tượng tự nguyện cũng như bắt buộc. Thật khó có thể đẩy mạnh hỗ trợ cho doanh nghiệp, khi mà kinh phí thì eo hẹp, nhân lực thì thiếu thốn, thời gian thì hạn chế, kinh nghiệm thì ít ỏi. Với nguồn kinh phí hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là 190 tỷ đồng trong 4 năm 2010-2014 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 585/QĐ-TTg ngày 05-5-2010, thì tính ra mỗi năm một doanh nghiệp cũng chỉ được số tiền tương đương 1 cuốn sách. Vì vậy, không nên xác định tất cả các khoản chi liên quan đến doanh nghiệp là chi phục vụ doanh nghiệp, mà cần xác định chủ yếu được tính vào khoản ngân sách thường xuyên chi cho hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ví dụ "Chi xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ hoạt động của doanh nghiệp" thì có thể dựa gần như hoàn toàn vào cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ cho nhu cầu chung.

"Điều cần nhất trong bối cảnh hiện nay của các doanh nghiệp, không phải là được tuyên truyền, đào tạo, phổ biến pháp luật, mà là ở chỗ, không biết phải ứng xử với pháp luật thế nào trước những vướng mắc thực tế".

Kẻ nhận ngại ngần

Điều cần nhất trong bối cảnh hiện nay của các doanh nghiệp, không phải là được tuyên truyền, đào tạo, phổ biến pháp luật, mà là ở chỗ, không biết phải ứng xử với pháp luật thế nào trước những vướng mắc thực tế. Nguyên nhân là do hệ thống pháp luật quá phức tạp, rối rắm và việc thực thi pháp luật quá tuỳ tiện, lắt léo. Có một nghịch lý dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trở thành phổ biến, nhức nhối là vì cái giá phải trả cho việc nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật nhiều khi "đắt" hơn so với việc vi phạm pháp luật.

Cái khó nhất đối với doanh nghiệp, không phải là tìm văn bản hay quy định trong văn bản, mà là những vấn đề mập mờ, khó hiểu và chồng chéo, mâu thuẫn nhau giữa các văn bản pháp luật. Về nguyên tắc, khi cùng một vấn đề có những quy định khác nhau thì ưu tiên quy định của văn bản có hiệu lực cao hơn. Nhưng cứ hành động như thế, thì lại là mạo hiểm, vì sẽ khó được cơ quan công quyền giải quyết công việc, thậm chí không bao giờ được chấp nhận. Đó là chưa kể, nguy cơ rất cao dẫn đến bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị truy tố phạm tội hình sự. Thế là, muốn an toàn và được việc, doanh nghiệp phải tự ép mình thực hiện theo những quy định nào chặt nhất, trói buộc nhất trong số những quy định ấy.

"Về nguyên tắc, khi cùng một vấn đề có những quy định khác nhau thì ưu tiên quy định của văn bản có hiệu lực cao hơn. Nhưng cứ hành động như thế, thì lại là mạo hiểm, vì sẽ khó được cơ quan công quyền giải quyết công việc, thậm chí không bao giờ được chấp nhận".

Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, sau khi đã đọc hết chữ trong các văn bản rồi, doanh nghiệp cũng như luật sư vẫn không biết phải hành xử thế nào. Khi ấy mới thật sự cần đến sự giải đáp của các cơ quan quản lý nhà nước. Nhưng nhiều khi được giải đáp xong, doanh nghiệp lại càng hoang mang. Xin lấy ví dụ về việc nộp thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động bán tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Ngày 18-3-2010, Bộ tài chính đã có Công văn số 3316/BTC-CST gửi Cục thuế các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương trả lời rõ, việc bán tài sản để thu hồi nợ không chịu thuế giá trị gia tăng. Công văn này căn cứ vào các Luật, Nghị định, Thông tư hiện hành và có tham khảo ý kiến của Ngân hàng Nhà nước. Ngày 06-9-2010, Bộ tài chính tiếp tục ra Công văn số 11754/2010/BTC-CST về thuế Giá trị gia tăng đối với các khoản thu cấp dịch vụ, bảo lãnh, tiếp tục dẫn chiếu nội dung trong Công văn 3316/BTC-CST nêu rõ việc bán tài sản để thu hồi nợ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Nhưng 21 ngày sau, Tổng Cục thuế lại có Công văn số 3755/TCT-CS ngày 27-9-2010 về việc trả lời câu hỏi tại Hội nghị đối thoại Doanh nghiệp, lại phủ nhận nội dung Công văn nêu trên của Bộ tài chính. Theo đó từ ngày 01-01-2009, hoạt động "bán tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ" của tổ chức tín dụng thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Công văn này đã nói rõ là Luật thuế Giá trị gia tăng 2008 và Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ không quy định việc bán tài sản bảo đảm thuộc diện miễn thuế giá trị gia tăng.

Như vậy, là cùng căn cứ vào các luật và nghị định như nhau, nhưng lại cho ra hai kết quả trái ngược. Có một thực tế là, các Luật Thuế giá trị gia tăng cũng như các Nghị định hướng dẫn thi hành từ năm 1997 đến nay đều không có văn bản nào nhắc đến hoạt động bán tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ thuộc diện phải hay không phải nộp thuế giá trị gia tăng. Thế nhưng, trong nhiều năm việc bán tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng đã không phải nộp thuế giá trị gia tăng. Và việc đó cũng chỉ xuất phát từ thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Như vậy, đến nay không thể kết luận được rằng hoạt động bán tài sản bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng không phải nộp thuế giá trị gia tăng theo ý kiến của Bộ Tài chính hay là buộc phải nộp theo quan điểm của Tổng cục Thuế, vì vấn đề đang bị bỏ ngỏ trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Mong muốn từ doanh nghiệp

Nếu đòi hỏi cơ quan nhà nước hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung thì quá mênh mông, với phạm vi quá rộng, vượt quá khả năng, khó mang lại hiệu quả cụ thể, thiết thực. Vì vậy, để làm được việc đó, cần tập trung vào một số đối tượng cụ thể trong doanh nghiệp như hỗ trợ đối tượng là người quản trị hay người điều hành hay là lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ của doanh nghiệp. Và điều cơ bản là muốn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thì phải thông qua các "kênh" dẫn pháp luật thâm nhập vào doanh nghiệp. Những kênh quan trọng nhất là các tổ chức tư vấn, dịch vụ pháp lý và lực lượng pháp chế doanh nghiệp. Cần dành một nguồn lực đáng kể nhằm phát triển năng lực luật sư nội bộ doanh nghiệp để hỗ trợ cho chính doanh nghiệp, tiếp theo là phát triển năng lực của các công ty, văn phòng luật sư, thông qua đó để hỗ trợ pháp lý cho cả cộng đồng doanh nghiệp. Nghị định về Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp đã có lý khi xác định các doanh nghiệp có trách nhiệm "Chủ động tìm hiểu pháp luật, bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế doanh nghiệp hoặc thuê luật sư tư vấn để giúp doanh nghiệp thực thi pháp luật." Nhưng, có một điều thực tế là, đội ngũ luật sư tư vấn doanh nghiệp còn rất yếu và thiếu, chưa đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, rất cần quan tâm đến việc xây dựng và phát triển lực lượng đóng vai trò then chốt, làm cầu nối thông suốt giữa kinh doanh và pháp luật.

Và các kênh luật sư, pháp chế doanh nghiệp nói trên cần phải dựa vào những đầu mối hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Đó là Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), là Câu lạc bộ Pháp chế Doanh nghiệp do Bộ Tư pháp bảo trợ và đặc biệt là các đầu mối trong từng lĩnh vực, ngành nghề là các vụ pháp chế của các bộ, các phòng pháp chế của các sở. Tuy nhiên, muốn thật sự có hiệu quả, thì nhất thiết cần phải bố trí một bộ phận chuyên trách thuộc các vụ và phòng pháp chế của các sở. Và đến lượt các đầu mối này cũng cần có một đầu mối chung để chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Đó có thể là Vụ Pháp chế Doanh nghiệp hay một đơn vị tương tự thuộc Bộ Tư pháp hay Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc VCCI. Đầu mối này cần được giao trách nhiệm và kinh phí để xây dựng và duy trì một trang web, trong đó gồm có các phần chính như: Tổng hợp tất cả các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp; tổng hợp tất cả các công văn có nội dung quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp; tổng hợp tất cả các nội dung giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp và là một diễn đàn trao đổi về pháp lý kinh doanh cho doanh nghiệp.

Nếu tập trung vào một số trọng tâm, trọng điểm đó, thì tin rằng việc hỗ trợ pháp lý sẽ mang lại hiệu quả tốt cho doanh nghiệp, tránh tình trạng hỗ trợ pháp lý mà người cho thì vướng, kẻ nhận ngại ngần.

Các tổng công ty cần bộ phận pháp chế

Đó là một trong những nội dung mới được nêu ra trong dự thảo Nghị định về hỗ trợ thực hiện pháp luật cho doanh nghiệp. Bộ Tư pháp, cơ quan soạn dự thảo này đánh giá, yếu kém trong tiếp cận thông tin pháp luật làm tăng khả năng rủi do, hạn chế hoạt động kinh doanh và sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp.

Tại cuộc tọa đàm lấy ý kiến về dự thảo nghị định này sáng 27/4, đại diện Bộ Tư pháp đã đưa ra con số "giật mình" sau một cuộc khảo sát: 50-80% doanh nghiệp phải nhờ cậy các mối quan hệ với cơ quan nhà nước hoặc phải có sự hỗ trợ của bạn bè và người thân mới tiếp cận thông tin (trong đó có thông tin pháp lý) . Kết quả điều tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cũng cho thấy, khoảng 70-80% trong số gần 1.300 doanh nghiệp không hiểu hoặc hoặc hiểu không đầy đủ pháp luật về kinh doanh.

Bộ Tư pháp cho biết, nhận thức pháp luật của nhiều chủ doanh nghiệp còn hạn chế. Không chỉ doanh nghiệp mới thành lập mà cả ở những đơn vị hoạt động đã lâu, tình trạng phổ biến là người quản lý không nắm được các quy định cơ quy định cơ bản về pháp luật kinh doanh. Việc này đặc biệt nghiêm trọng ở các địa phương ngoài Hà Nội và TP HCM.

Nguyên nhân của vấn đề trên được nhìn nhận là do người quản lý doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lớn, thuộc sở hữu nhà nước chưa chú trọng việc áp dụng, thực hiện pháp luật. Nó ảnh hưởng, gây ra những rủi ro trong kinh doanh.

Tuy nhiên, một vấn đề khác là khó tiếp cận các văn bản pháp luật. Góp ý về dự thảo nghị định, ông Đào Ngọc Lý (Trưởng phòng pháp chế và thanh tra Tổng công ty Chè) nêu thực tế, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều vấn đề về pháp lý, nhưng loanh quanh không biết bấu víu vào đâu để giải quyết vướng mắc, vì không có được văn bản pháp luật cần thiết trong tay.

Cùng quan điểm này, bà Châu Hồng Nga (Trưởng phòng pháp chế Tổng công ty Thuốc lá VN) bức xúc khi kêu gọi: "Cần quan tâm đến doanh nghiệp nhiều hơn nữa". Theo bà, tại nhiều doanh nghiệp trong khi điều lệ hoạt động của công ty con đã có đầy đủ thì điều lệ công ty mẹ lại chưa được ban hành, vì chưa có văn bản hướng dẫn. Đây là hậu quả của việc "sinh con rồi mới sinh cha", khiến lãnh đạo vướng mắc, lúng túng trong việc ban hành văn bản với cấp dưới.

Dự thảo Nghị định đề nghị Chính phủ đầu tư kinh phí để xây dựng, duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu pháp luật kinh doanh quốc gia. Việc này sẽ giải quyết được tình trạng bất cập là thông tin về văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính đầy đủ, hệ thống và toàn diện.

Một biện pháp được nêu trong dự thảo là, các cơ quan cấp bộ, chính phủ phải cung cấp tài liệu, hướng dẫn thực hiện văn bản quy phạm pháp luật theo yêu cầu của doanh nghiệp, nhất là tài liệu mới ban hành. Những đơn vị này phải trả lời bằng văn bản theo yêu cầu của doanh nghiệp về những vấn đề thuộc phạm vi, quyền hạn của mình. Thực hiện tốt việc này sẽ không còn tình trạng đùn đẩy, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi có yêu cầu của doanh nghiệp về hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật.
Cần chiến lược đầu tư về người tư vấn cho doanh nghiệp.

Dự thảo Nghị định khuyến khích các tổ chức dịch vụ tư vấn pháp luật, phát triển hoạt động tư vấn pháp luật để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Tổ chức này được tạo điều kiện tiếp cận thông tin pháp lý, tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp.
Theo một số chuyên gia, hiện nhiều doanh nghiệp đã ý thức được vai trò của đội ngũ tư vấn pháp luật nhưng vẫn chưa biết cách phát huy hiệu quả. "Có đơn vị than vãn, tuyển một lúc 4-5 cử nhân luật, nhưng tình hình vẫn chẳng có chuyển biến nhiều vì họ bố trí cán bộ không hợp lý. Mỗi người "đóng" tại một phòng, chưa tạo thành bộ máy tổng thể", ông Đào Ngọc Lý nêu ví dụ. Luật sư này cho biết, ông từng kiểm tra việc soạn thảo văn bản của một số cử nhân luật được tuyển vào doanh nghiệp. "Có tới 70% văn bản không đạt yêu cầu", ông trăn trở.

Nhiều doanh nghiệp cũng tính tới việc thuê luật sư giải quyết các vấn đề về pháp lý nảy sinh trong kinh doanh. Nhưng hiệu quả chưa được như mong muốn. "Mỗi luật sư chỉ mạnh về một mảng (đất đai, thương mại...). Khi chúng tôi cần tư vấn, họ khất, cần thời gian nghiên cứu. Đến khi trả lời, thì đã qua mất thời điểm cần giải quyết vấn đề, hoặc chúng tôi đã tìm được cách khác", bà Nga khẳng định.
Nhiều ý kiến cho rằng, việc Nghị định đặt ra vấn đề thành lập bộ phận pháp chế trong các tổng công ty (doanh nghiệp lớn của nhà nước) là "gãi trúng vấn đề". Bộ phận này gồm những người am hiểu pháp luật, cùng với cọ xát thực tế kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp người quản lý có những quyết sách đúng, triển khai hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, hạn chế rủi ro.
Anh Thư

Nâng cao hoạt động pháp chế trong doanh nghiệp nhỏ và vừa


Ảnh minh họa
(DN&HN) - Các doanh nghiệp, nhất là loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang được thành lập ngày càng nhiều về số lượng (chiếm khoảng 95% tổng số lượng doanh nghiệp Việt Nam). Đây cũng là những doanh nghiệp rất đa dạng về hình thức hoạt động, như các loại hình doanh nghiệp tư nhân, TNHH, cố phẩn….



Thực tế những năm qua khẳng định, kết quả hoạt động của khối DNNVV góp phần chủ yếu và quan trọng vào GDP cho đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động và giải quyết các vấn đề anh sinh xã hội. Tuy nhiên, trong hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay còn một khoảng trống yếu kém lớn, đó là quá trình áp dụng, vận dụng pháp luật vào trong hoạt động SXKD, điều hành của doanh nghiệp. Có thể nói, công tác pháp chế trong các DNNVV hiện nay gần như chưa được quan tâm đúng mức.
Nguyên nhân thực trạng yếu kém
Thứ nhất: trong một thời gian ngắn kể từ khi Luật doanh nghiệp 2005 (sửa đổi) cho đến nay số lượng doanh nghiệp của chúng ta mỗi năm đã tăng lên đến hàng trăm ngàn doanh nghiệp, tuy nhiên nền tảng ý thức pháp luật và  nhận thức về vai trò, ý nghĩa của pháp luật của đa phần chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, không được đào tạo cơ bản về pháp luật, cá biệt có nhiều chủ sở hữu doanh nghiệp khi thành lập ra nhưng không hiểu gì về mô hình hoạt động của HĐQT, Hội đồng thành viên trong công ty như thế nào? Điều đó đã dẫn đến hàng loạt các hệ lụy về pháp lý diễn ra sau đó mà pháp luật hiện nay đang rất khó khăn trong việc giải quyết hậu quả như vấn đề doanh nghiệp bỏ trốn, vấn đề lập doanh nghiệp để mua bán hóa đơn, vấn đề doanh nghiệp chấm dứt hoạt động không thông báo với cơ quan QLNN…;
Thứ hai: Do thiếu ý thức pháp luật và không có cán bộ pháp chế tham mưu nên khi có những khó khăn vương mắc trong các vấn đề pháp lý doanh nghiệp vẫn hay tìm đến với các mối quan hệ mang tính chất  tình cảm để giải quyết, điều đó lại càng làm cho doanh nghiệp rơi vào trạng thái yếu thế hơn, đặc biệt là khi xảy ra các tranh chấp quốc tế;
Thứ ba: Việc phát huy vai trò của các Hội doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi cho các hội viên chưa thực sự được quan tâm, các doanh nghiệp khi gặp các vấn đề pháp lý chưa biết tìm đến mái nhà chung là các Hội mà doanh nghiệp tham gia để đề xuất nói lên tiếng nói của Hiệp hội với cơ quan bộ ngành nhằm mục tiêu tháo gỡ; Đa phần các doanh nghiệp tìm hướng giải quyết một cách đơn lẻ hoặc đến với các dịch vụ pháp lý, tuy nhiên hoạt động dịch vụ pháp lý của chúng ta hiện nay đa phần mới chỉ tập trung ở một vài đô thị lớn và cũng không đồng đều về chất lượng, các luật sư trẻ có kinh nghiệm tư vấn, giải quyết các vấn đề về kinh tế, tranh chấp thương mại quốc tế còn quá ít về số lượng;
Thứ tư: các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận với thông tin pháp luật, không biết cách khai thác hệ thống thông tin pháp luật, trong khi hệ thống pháp luật của chúng  ta lại có qúa nhiều văn bản hướng dẫn thực thi luật của chính phủ, bộ ngành TW và cả địa phương;
Thứ năm: các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự quan tâm đến việc phổ biến, hướng dẫn, tổ chức thi hành pháp luật cho doanh nghiệp; nhiều thắc mắc của doanh nghiệp về nội dung các quy định pháp luật và việc áp dụng pháp luật chưa được các cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải đáp kịp thời, do đó cũng làm cho việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp gặp khó khăn.
Vấn đề đặt ra
Xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản nêu trên, chúng ta thấy rằng công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp còn kém hiệu quả. Hệ thống  văn bản pháp luật được ban hành nhiều, nhưng chưa được tổ chức thi hành tốt. Điều đó ảnh hưởng tới việc xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, gây nên tâm lý không tốt trong xã hội.
Đối với DNNVV, cùng với những hạn chế về công nghệ, năng lực quản lý, thị trường..., việc hiểu biết pháp luật hạn chế đã làm cho năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt nam đã thấp lại càng thấp hơn và hiện đang gây bất lợi cho doanh nghiệp Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Để khắc phục những yếu kém nêu trên đã đến lúc cả hai phía Doanh nghiệp và cơ quan QLNN cần tạo một lực đẩy trong công tác pháp chế doanh nghiệp, gần mới đây ngày 28/5/2008 chính phủ đã ban hành nghị định số 66/2008/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm thiết lập cơ chế tạo khung pháp lý để thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. nghị định đã nêu rõ trách nhiệm của các Bộ ngành, UBND tỉnh, các Hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp trong việc triển khai các hình thức hỗ trợ nâng cao năng lực pháp luật cho doanh nghiệp, trong đó tinh thần của nghị định là nhà nước sẽ có những công cụ hỗ trợ nhằm nâng cao nền tảng pháp lý cho doanh nghiệp và phía doanh nghiệp phải thực sự chủ động nâng cao tầm nhận thức pháp luật, nắm bắt kịp thời các thông tin pháp luật để vận dụng trong quản lý, sản xuất kinh doanh và bảo vệ chính mình.
Để triển khai nghị định này có hiệu quả trước hết đòi hỏi chính doanh nghiệp và các Hiệp hội doanh nghiệp phải thực sự có cách nhìn thay đổi về vấn đề pháp chế và xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế của doanh nghiệp. Cùng với những định hướng của nhà nước trong một giai đoạn nhất định, chắc chắn hoạt động pháp chế và nhận thức về pháp luật của DNNVV sẽ được cải thiện và nâng lên.